1. Một sự trung thành có sức khai mở ra tương lai là điều mà các linh mục được kêu gọi ngày nay. Việc trân trọng giá trị của sự kiên trì trong sứ mạng tông đồ sẽ cho chúng ta cơ hội suy ngẫm về tương lai của sứ vụ chúng ta và giúp người khác kinh nghiệm niềm vui của ơn gọi linh mục. Cuộc kỷ niệm 60 năm Công đồng Vatican II, diễn ra trong Năm Thánh này, là dịp để chúng ta chiêm nghiệm lại ơn ban trung thành đầy hoa trái này, và để nhớ lại những giáo huấn của các Sắc lệnh Optatam Totius  Presbyterorum Ordinis, được ban hành lần lượt vào ngày 28 tháng 10 và ngày 7 tháng 12 năm 1965. Hai văn bản này ra đời từ một cảm hứng duy nhất của Giáo hội, được kêu gọi trở thành dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp nhất cho mọi dân tộc, và được thách thức đổi mới chính mình, ý thức rằng “sự đổi mới mà toàn thể Giáo hội mong muốn phụ thuộc phần lớn vào một sứ vụ linh mục được thúc đẩy bởi Thần khí của Chúa Kitô”.[1]

2. Chúng ta không chỉ đơn thuần mừng một dịp kỷ niệm. Thực vậy, cả hai văn kiện đều đặt nền chắc chắn trên nhận thức về Giáo hội như là Dân Thiên Chúa đang hành trình xuyên qua lịch sử. Các văn bản này cũng thiết lập một cột mốc trong suy tư thần học về bản chất và sứ mạng của sứ vụ mục vụ và về việc chuẩn bị cho sứ vụ đó, và chúng vẫn còn rất mới mẻ và rất phù hợp. Vì vậy, tôi mời gọi mọi người tiếp tục đọc các văn bản này trong các cộng đoàn Kitô hữu và nghiên cứu chúng, nhất là trong các chủng viện và tất cả các nơi chuẩn bị và đào tạo cho sứ vụ chức thánh.

3. Các Sắc lệnh Optatam Totius  Presbyterorum Ordinis, cắm rễ vững chắc trong truyền thống giáo lý của Giáo hội liên quan đến Bí tích Truyền chức thánh, đã cho thấy suy tư sâu đậm của Công đồng về chủ đề chức linh mục thừa tác và diễn tả rõ ràng mối quan tâm của Công đồng đối với các linh mục. Mục đích là để xây dựng bộ khung cần thiết cho việc đào tạo các thế hệ linh mục tương lai phù hợp với cuộc canh tân được Công đồng cổ võ, duy trì một căn tính thừa tác vững chắc trong khi cũng nhấn mạnh các nhãn giới mới và hội nhập những suy tư trước đó, nhằm phát triển giáo lý đúng đắn.[2] Do đó, chúng ta phải giữ sống động ký ức này bằng cách đảm nhận thi hành những gì mà các Sắc lệnh này đã trao cho toàn thể Giáo hội. Điều này bao gồm việc làm sống hoạt lại sứ vụ linh mục mỗi ngày, kín múc sức mạnh từ gốc rễ của nó, tức mối gắn kết giữa Chúa Kitô và Giáo hội, để trở thành những môn đệ thừa sai như lòng Chúa mong ước, hiệp nhất với tất cả các tín hữu và phục vụ họ.

4. Đồng thời, trong sáu thập niên kể từ Công đồng, nhân loại đã trải qua và tiếp tục kinh nghiệm những thay đổi. Điều này đòi hỏi phải thường xuyên đánh giá con đường đã đi và phải không ngừng đào sâu các giáo huấn của Công đồng. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, Giáo hội đã được Chúa Thánh Thần dẫn dắt để phát triển giáo lý của Công đồng về bản chất của Giáo hội xét như sự hiệp thông theo chiều kích hiệp hành và sứ mạng.[3] Chính với ý định ấy mà tôi gửi Tông Thư này cho toàn thể Dân Chúa, để cùng nhau khảo sát căn tính và chức năng của sứ vụ chức thánh dưới ánh sáng của những gì Chúa đang mời gọi Giáo hội ngày nay, tiếp tục công cuộc canh tân lớn lao được bắt đầu bởi Công đồng Vatican II. Để hân hoan đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu, tôi đề xuất làm công việc này thông qua lăng kính sự trung thành, vừa là một ân sủng của Thiên Chúa vừa là một hành trình hoán cải liên tục. Trước hết, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn về chứng tá và sự tận tâm của tất cả các linh mục trên khắp thế giới, những người hiến dâng cuộc đời mình trong việc cử hành hy tế của Chúa trong Thánh Thể, rao giảng Lời Chúa và giải tội, cũng như sự quảng đại dấn thân mỗi ngày cho anh chị em mình, thúc đẩy sự hiệp thông và hiệp nhất giữa họ, và sự quan tâm đặc biệt đối với những người đau khổ đang cần giúp đỡ nhất.

Trung thành và phục vụ

5. Mỗi ơn gọi trong Giáo hội đều phát khởi từ một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Kitô, cuộc gặp gỡ “trao cho đời sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định”.[4] Đi trước bất kỳ sự cam kết, cảm hứng cá nhân hay sự phục vụ nào, đều có tiếng gọi của vị Tôn sư: “Hãy theo Ta” (Mc 1,17). Chúa của sự sống biết chúng ta và soi sáng tâm hồn chúng ta bằng ánh nhìn yêu thương của Người (Mc 10,21). Đây không chỉ là một tiếng nói bên trong, mà còn là một sự thúc đẩy thiêng liêng thường đến với chúng ta qua gương mẫu của các môn đệ khác của Chúa, và hình thành nên một sự lựa chọn can đảm cho cuộc sống. Lòng trung thành với ơn gọi của chúng ta, nhất là trong những lúc gặp thử thách và cám dỗ, sẽ được củng cố khi chúng ta không quên tiếng nói đó, khi chúng ta nồng nhiệt nhớ lại âm giọng của Chúa, Đấng yêu thương, chọn và gọi chúng ta, và khi chúng ta ký thác bản thân cho sự đồng hành không thể thiếu của những người am hiểu về đời sống tâm linh. Trải qua thời gian, âm vang của lời Chúa là nguyên lý hiệp nhất bên trong với Chúa Kitô, điều vốn là nền tảng và thiết yếu trong đời sống tông đồ.

6. Ơn gọi hướng đến sứ vụ chức thánh là một ơn ban tự do và vô điều kiện từ Thiên Chúa. Thật vậy, ơn gọi không phải do Chúa áp đặt, mà đúng hơn đó là một lời đề nghị đầy yêu thương để chúng ta theo đuổi một kế hoạch đem lại sự cứu rỗi và sự tự do cho cuộc sống của mình, chúng ta đón nhận ơn gọi khi nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta chấp nhận Chúa Giêsu là trung tâm của đời sống mình. Như vậy, ơn gọi hướng đến sứ vụ chức thánh lớn lên như một sự hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa và, do đó, cho Dân thánh của Ngài. Toàn thể Giáo hội cầu nguyện và vui mừng về sự dâng hiến này với tấm lòng chứa chan hy vọng và biết ơn. Điều này đã được Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI diễn tả vào dịp bế mạc Năm Linh Mục: “Chúng ta muốn khơi dậy niềm vui của mình vì được Thiên Chúa gần gũi biết bao, và khơi dậy lòng biết ơn của mình vì được Ngài phó thác chính Ngài cho những yếu đuối của chúng ta, và vì Ngài hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta mỗi ngày. Qua đó, chúng ta cũng muốn một lần nữa cho các bạn trẻ thấy rằng ơn gọi này, sự hiệp thông phục vụ này cho Thiên Chúa và với Thiên Chúa, thực sự tồn tại - và thực sự Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta nói ‘xin vâng’.”[5]

7. Mỗi ơn gọi là một quà tặng của Chúa Cha, cần được trung thành gìn giữ trong một năng động hoán cải không ngừng. Sự vâng phục đối với tiếng gọi dành cho mình được vun đắp mỗi ngày thông qua việc lắng nghe lời Chúa; cử hành các bí tích, đặc biệt là Hy tế Thánh Thể; việc loan báo Tin Mừng; sự gần gũi với những người bé nhỏ nhất trong chúng ta; và tình huynh đệ linh mục, tất cả dựa vào việc cầu nguyện xét như chỗ ưu việt để gặp gỡ Chúa. Như thể mỗi ngày người linh mục đều trở lại bên Biển Galilê, nơi Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô: “Anh có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15), để khẳng định lại tiếng thưa “có” của mình.[6] Theo nghĩa này, chúng ta có thể hiểu sự kỳ vọng được diễn tả trong Optatam Totius rằng việc đào tạo linh mục không nên dừng lại khi kết thúc chương trình chủng viện (x. số 22), mà đúng hơn nên mở ra lộ trình đào tạo liên tục, thường xuyên, để tạo ra một năng động canh tân không ngừng về nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ.

8. Vì thế, tất cả các linh mục được mời gọi không ngừng nuôi dưỡng việc đào tạo của chính mình để giữ sống động ơn ban của Thiên Chúa nhận được qua Bí tích Truyền chức thánh (x. 2Tm 1,6). Lòng trung thành với ơn gọi của mình, do đó, không phải là cái gì tĩnh tại hay đóng kín, mà là một hành trình hoán cải hằng ngày giúp khẳng định và làm trưởng thành ơn gọi đã nhận được. Trong nhãn giới này, thật thích hợp việc thúc đẩy các sáng kiến ​​như Hội nghị về Thường Huấn Linh Mục, được tổ chức tại Vatican từ ngày 6 đến 10 tháng 2 năm 2024, quy tụ hơn 800 người chịu trách nhiệm về việc thường huấn từ 80 quốc gia. Trước khi là một nỗ lực có tính tri thức hay đào tạo mục vụ, việc thường huấn là một ký ức sống động và là sự canh tân thường xuyên về ơn gọi của chúng ta trên một hành trình cùng với nhau.

9. Từ lúc được gọi và trong quá trình đào tạo khai tâm, vẻ đẹp và sự ổn định của hành trình được bảo vệ bởi sequela Christi (đi theo Đức Kitô). Thật vậy, ngay cả trước khi hiến mình để dẫn dắt đoàn chiên, mỗi linh mục phải luôn nhớ rằng mình là một môn đệ của Thầy, giống như các anh chị em của mình, bởi vì “người ta vẫn luôn là một ‘môn đệ’ suốt đời, không ngừng khao khát nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.”[7] Chỉ có mối tương quan vâng phục đi theo Chúa và tinh thần môn đệ trung tín này mới có thể giữ cho lòng trí mình đi đúng đường, xuyên qua những biến động có thể gặp trong cuộc sống.

10. Trong những thập niên gần đây, cuộc khủng hoảng niềm tin vào Giáo hội do những lạm dụng gây ra bởi các thành viên của hàng giáo sĩ đã khiến chúng ta xấu hổ và kêu gọi chúng ta khiêm nhường. Nó làm cho ta nhận thức rõ hơn nữa về nhu cầu cấp thiết phải có một nền đào tạo toàn diện nhằm bảo đảm sự phát triển và trưởng thành nhân cách của các ứng viên chức linh mục, cùng với một đời sống thiêng liêng phong phú và vững chắc.

11. Vấn đề đào tạo cũng là trọng tâm để giải quyết hiện tượng những người rời bỏ sứ vụ linh mục sau vài năm hay thậm chí vài chục năm. Thực tế đau lòng này không nên chỉ được hiểu theo khía cạnh pháp lý, mà đòi hỏi chúng ta phải xem xét cách cẩn thận và đầy cảm thông đối với quá trình của những anh em này và nhiều lý do có thể đã dẫn họ đến quyết định như vậy. Trước hết và trên hết, phản ứng thích hợp là một cam kết dấn thân mới mẻ trong việc đào tạo, nhắm mục tiêu là “một hành trình trưởng thành trong sự mật thiết với Chúa. Nó liên quan đến toàn bộ con người, trái tim, trí óc và sự tự do, để khuôn đúc anh ta theo hình ảnh vị Mục Tử Tốt Lành.”[8]

12. Do đó, “chủng viện là nơi đào tạo để giúp chủng sinh chăm sóc chính trái tim mình… Chúng ta cần học biết yêu thương và học cách yêu thương như Chúa Giêsu yêu.” Vì vậy, tôi kêu gọi các chủng sinh hãy hết sức lưu tâm về các động cơ của mình. Điều này liên quan đến mọi khía cạnh của cuộc sống, vì “không nên bỏ qua bất cứ điều gì thuộc về tính độc đáo cá nhân của bạn; trái lại, cần đón nhận và biến đổi mọi sự, giống như hạt lúa mì trong Phúc Âm. Mục tiêu là trở thành một người vui vẻ và một linh mục vui vẻ, một ‘cầu nối’ chứ không phải là một trở ngại cho những người đến với bạn để đến với Chúa Kitô.”[9] Chỉ những linh mục và những người thánh hiến trưởng thành nhân bản và vững vàng tâm linh – nói cách khác, những người mà các chiều kích nhân bản và thiêng liêng được hội nhập tốt và do đó có khả năng tương quan chân thực với mọi người – mới có thể cam kết sống độc thân và rao giảng Tin Mừng của Chúa Phục Sinh một cách đáng tin cậy.

13. Điều này đòi hỏi phải bảo vệ và nuôi dưỡng ơn gọi thông qua một hành trình hoán cải liên tục và sự trung thành được đổi mới, đây không bao giờ là một con đường thuần túy cá nhân, mà đòi hỏi chúng ta phải chăm sóc lẫn nhau. Năng động này luôn là một công trình của ân sủng đón nhận nhân tính mỏng giòn của chúng ta, chữa lành nó khỏi tính ái kỷ và ích kỷ. Với lòng tin, cậy, mến, chúng ta được mời gọi bước theo Chúa Kitô mỗi ngày, đặt trọn niềm tín thác vào Chúa. Không thể đạt được sự hiệp thông, tính hiệp hành và sứ mạng nếu trong lòng các linh mục, mối cám dỗ tự qui chiếu về mình không nhường chỗ cho tâm thế lắng nghe và phục vụ. Như Đức Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh, “linh mục là tôi tớ của Chúa Kitô, theo nghĩa là sự hiện hữu của linh mục, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô về mặt hữu thể, đạt được một đặc tính tương quan thiết yếu: linh mục ở trong Chúa Kitô, vì Chúa Kitô và cùng với Chúa Kitô, phục vụ cho nhân loại. Bởi vì thuộc về Chúa Kitô, linh mục hết lòng phục vụ tất cả mọi người: ngài là thừa tác viên đem ơn cứu độ, hạnh phúc và sự giải phóng đích thực cho họ, điều này được thực hiện qua sự tiếp nhận dần dần ý muốn của Chúa Kitô, qua cầu nguyện, và qua việc ‘tâm sự gần gũi’ với Người.”[10]

Trung thành và tình huynh đệ

14. Công đồng Vatican II đã đặt sự phục vụ chuyên biệt của các linh mục trong phẩm giá bình đẳng và trong tình huynh đệ của mọi người đã lãnh Phép Rửa, như Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis nêu rõ: “Mặc dù các linh mục của luật mới, do Bí tích Truyền chức, thi hành chức năng nổi bật và thiết yếu của người cha và người thầy giữa dân Thiên Chúa và thay mặt họ, nhưng các linh mục vẫn là môn đệ của Chúa cùng với tất cả các tín hữu, và các ngài đã được Thiên Chúa, Đấng kêu gọi các ngài bằng ân sủng, làm cho dự phần vào Vương quốc của Ngài. Các linh mục, cũng như tất cả những ai đã được tái sinh trong nguồn mạch Phép Rửa, là anh em giữa các anh chị em của mình như những chi thể của cùng một thân thể Chúa Kitô, thân thể mà tất cả đều được truyền phải xây dựng.”[11] Tình huynh đệ nền tảng này cắm rễ trong Phép Rửa và liên kết toàn thể Dân Chúa. Đồng thời, Công đồng nhấn mạnh mối liên kết huynh đệ đặc biệt giữa các thừa tác viên chức thánh, đặt nền trong chính Bí tích Truyền chức: “Tất cả các linh mục, những người được thiết lập trong chức tư tế bởi Bí tích Truyền chức, trở nên ràng buộc với nhau bởi một tình huynh đệ mật thiết có tính bí tích, nhưng một cách đặc biệt, họ làm nên một hàng linh mục trong giáo phận mà họ trực thuộc dưới quyền giám mục của mình... Mỗi linh mục được liên kết với các thành viên còn lại của hàng linh mục này bằng những mối dây đặc biệt của đức ái tông đồ, của sứ vụ, và của tình huynh đệ.”[12] Trước khi là một việc cần phải chu toàn, tình huynh đệ linh mục tiên vàn là một ơn ban gắn với ân sủng Bí tích Truyền chức. Chúng ta phải nhìn nhận thực tế rằng ơn ban này đi trước chúng ta. Nó không chỉ được xây dựng trên thiện chí và nỗ lực tập thể, mà nó là một ơn được ban, làm cho chúng ta trở thành người tham dự vào sứ vụ của giám mục và được hiện thực hóa trong sự hiệp thông với ngài và với các anh em linh mục của chúng ta.

15. Nhưng cũng chính vì lý do đó mà các linh mục được mời gọi đáp lại ân sủng tình huynh đệ này bằng cách thể hiện và chứng thực qua đời sống mình những gì mình được kỳ vọng, không chỉ bởi ân sủng của Phép Rửa mà còn bởi ân sủng của Bí tích Truyền chức Thánh nữa. Trước hết, trung thành với sự hiệp thông có nghĩa là vượt qua cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân, vì nó không phù hợp với hoạt động sứ mạng và loan báo Tin Mừng, vốn là hoạt động luôn liên quan đến toàn thể Giáo hội. Không phải ngẫu nhiên mà Công đồng Vatican II hầu như luôn nói về các linh mục ở dạng số nhiều – không có mục tử nào tồn tại một mình! Chính Chúa đã “chọn mười hai vị, mà Người gọi là tông đồ, để ở với Người” (Mc 3,14). Điều này có nghĩa rằng không thể có sứ vụ nào ở ngoài sự hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô và với Thân Thể của Người là Giáo hội. Trong ý thức rằng sự hiệp nhất của Giáo hội bắt nguồn từ “sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”,[13] thì việc làm cho chiều kích tương quan và hiệp thông này của sứ vụ chức thánh ngày càng trở nên rõ ràng hơn là một trong những thách thức chính cho tương lai, đặc biệt trong một thế giới in đậm dấu chiến tranh, chia rẽ và bất hòa.

16. Vì thế, tình huynh đệ linh mục phải được coi là một yếu tố cấu thành căn tính của các thừa tác viên,[14] không chỉ đơn thuần là một lý tưởng hay khẩu hiệu, mà là một khía cạnh cần được theo đuổi với năng lực mới mẻ. Theo nghĩa này, nhiều việc đã được thực hiện để áp dụng các khuyến nghị của Presbyterorum Ordinis (x. số 8), nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm, chẳng hạn, trước hết về sự bình đẳng về kinh tế giữa những linh mục phục vụ các giáo xứ nghèo và những người thi hành sứ vụ của mình tại các cộng đoàn khá giả. Cũng cần lưu ý rằng, ở một số quốc gia và giáo phận, sự dự liệu thiết yếu cho bệnh tật và tuổi già vẫn chưa được bảo đảm. Việc chăm sóc lẫn nhau, nhất là sự quan tâm tới những anh em cô đơn và cô độc nhất của chúng ta, cũng như những anh em đau yếu và già cả, không thể bị coi là ít quan trọng hơn so với việc chăm sóc dân chúng được giao phó cho chúng ta. Đây là một trong những điểm cơ bản mà tôi đã đề nghị với các linh mục nhân ngày Năm Thánh gần đây của họ. “Vì làm sao chúng ta, với tư cách là những thừa tác viên, có thể là những người xây dựng các cộng đoàn sống động, nếu trước tiên chúng ta không kinh nghiệm một tinh thần huynh đệ chân thực giữa chính chúng ta?”[15]

17. Trong nhiều bối cảnh, nhất là ở phương Tây, đang nổi lên những thách thức mới trong đời sống của các linh mục liên quan đến tính cơ động hiện đại và sự phân mảnh của xã hội. Điều này có nghĩa là các linh mục không còn là một phần của một cộng đoàn gắn kết và tin tưởng mà trước đây đã hỗ trợ cho sứ vụ của họ. Do đó, họ dễ bị rơi vào nguy cơ cô đơn, điều này làm suy giảm nhiệt tâm tông đồ của họ và có thể dẫn đến sự khép kín đáng buồn nơi chính mình. Cũng vì lý do này, theo chỉ dẫn của các vị tiền nhiệm,[16] tôi hy vọng rằng trong tất cả các Giáo hội địa phương, sẽ có một quan tâm mới mẻ để đầu tư và thúc đẩy các hình thức khả thi về đời sống cộng đoàn, “nhằm giúp các linh mục tìm được sự giúp đỡ lẫn nhau trong việc trau dồi đời sống tri thức và thiêng liêng, thúc đẩy sự cộng tác tốt hơn giữa họ trong sứ vụ, bảo vệ họ khỏi những nguy hiểm có thể đến từ sự cô đơn.”[17]

18. Mặt khác, cần nhớ rằng sự hiệp thông linh mục không bao giờ có thể tạo lập bằng cách chuẩn hóa các cá nhân và các đặc sủng hay tài năng mà Chúa đã ban cho mỗi người. Dựa vào sự phân định của giám mục, điều quan trọng là trong hàng linh mục giáo phận phải có sự cân bằng giữa việc trân trọng các ơn ban này và việc bảo toàn sự hiệp thông. Từ quan điểm này, phong cách hiệp hành có thể giúp mọi người trưởng thành nội tâm trong việc đón nhận các đặc sủng khác nhau trong một tổng hợp có sức củng cố sự hiệp thông của hàng linh mục, đồng thời trung thành với Tin Mừng và với giáo huấn của Giáo hội. Trong một thời thế đầy bất ổn, tất cả các thừa tác viên chức thánh được mời gọi sống hiệp thông bằng cách trở về với những gì cốt yếu và gần gũi với mọi người, để gìn giữ niềm hy vọng được hình thành trong sự phục vụ khiêm nhường và cụ thể. Trong bối cảnh này, sứ vụ của phó tế vĩnh viễn, đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Tôi Tớ, là một dấu hiệu sống động không phải của một tình yêu hời hợt mà là một tình yêu cúi xuống, lắng nghe và cho đi một cách quảng đại. Vẻ đẹp của một Giáo hội bao gồm các linh mục được cộng tác bởi các phó tế, hiệp nhất do cùng một lòng say mê Tin Mừng và sự quan tâm đến những người túng thiếu nhất, trở thành một chứng tá sáng ngời của sự hiệp thông. Theo lời Chúa Giêsu (x. Ga 13,34-35), chính từ sự hiệp nhất này, cắm rễ trong tình yêu thương nhau, mà lời rao giảng của Kitô giáo nhận được sự tín nhiệm và sức mạnh. Vì lý do này, sứ vụ của phó tế, đặc biệt khi được sống trong hiệp thông với gia đình mình, là một ơn ban cần được nhận hiểu, trân trọng và nâng đỡ. Sự phục vụ kín đáo nhưng thiết yếu của những người dấn thân cho việc bác ái nhắc nhở chúng ta rằng sứ mạng không được hoàn thành bằng những việc to tát, mà bằng một lòng say mê Nước Thiên Chúa kết hợp với lòng trung thành hằng ngày đối với Tin Mừng.

19. Một biểu tượng vui tươi và hùng hồn về lòng trung thành với sự hiệp thông chắc chắn là biểu tượng được thánh Inhaxiô thành Antiokia trình bày trong Thư của ngài gửi tín hữu Êphêsô: “Thật đúng đắn việc anh em làm việc với nhau trong sự hòa hợp với tư tưởng của giám mục, như anh em đang thực sự làm thế. Vì hội đồng kỳ mục của anh em, xứng đáng với tên gọi của mình và xứng đáng với Thiên Chúa, hòa hợp với giám mục như các dây đàn ‘lia’ hòa hợp với nhau. Nhờ đó, trong sự nhất trí và trong tình yêu hòa hợp của anh em, Chúa Giêsu Kitô được ca ngợi… Vì vậy, thật tốt việc anh em sống hiệp nhất cách hoàn hảo, để anh em luôn có thể được thông dự với Thiên Chúa.”[18]

Trung thành và tính hiệp hành

20. Giờ đây tôi nói đến một điểm mà mình đặc biệt thao thức. Khi đề cập về căn tính của các linh mục, Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis trước tiên nhấn mạnh mối liên kết giữa chức linh mục và sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô (x. số 2), và sau đó chỉ ra ba chiều kích cơ bản. Thứ nhất là mối tương quan với giám mục, là người coi các linh mục là “những cộng sự và cố vấn không thể thiếu”, và duy trì với họ mối tương quan huynh đệ và thân thiện (x. số 7). Thứ hai là mối hiệp thông và tình huynh đệ có tính bí tích với các linh mục khác, để cùng nhau đóng góp vào “cùng một công cuộc chung” và thực hiện “một sứ vụ linh mục duy nhất”, tất cả đều làm việc “cho cùng một mục đích” ngay cả khi đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau (số 8). Cuối cùng là mối tương quan với các tín hữu giáo dân, trong đó các linh mục, với trách nhiệm đặc thù của mình, là anh em cùng chia sẻ với họ phẩm giá do Phép Rửa, kết hợp “những nỗ lực của mình với những nỗ lực của các tín hữu giáo dân”, và được giúp ích từ “kinh nghiệm và năng lực của họ trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người. Bằng cách này, các linh mục sẽ có thể cùng với họ nhận ra những dấu chỉ của thời đại”. Thay vì tìm cách thống trị hoặc tự mình đảm nhận tất cả mọi việc, các linh mục “phải khám phá bằng đức tin những đặc sủng khiêm hạ và cao cả khác nhau của giáo dân, trong số nhiều ơn ban của Thiên Chúa được tìm thấy dồi dào giữa các tín hữu” (số 9).

21. Vẫn còn nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này. Động lực của tiến trình hiệp hành là lời mời gọi mạnh mẽ từ Chúa Thánh Thần để thực hiện những bước quyết định theo hướng này. Do đó, tôi nhắc lại mong muốn của mình là “mời gọi các linh mục… bằng cách nào đó mở lòng mình ra và tham gia vào các tiến trình”[19] mà chúng ta đang thực hiện. Về vấn đề này, khóa hội nghị thứ hai của Thượng Hội đồng XVI, trong Văn kiện Chung kết,[20] đã đề ra một sự hoán cải các mối tương quan và các tiến trình. Xem ra điều thiết yếu, đó là trong tất cả các Giáo hội địa phương, cần phải thực hiện các sáng kiến ​​​​phù hợp để các linh mục có thể làm quen với các nguyên tắc hướng dẫn của Văn kiện này và trải nghiệm những hiệu quả của một Giáo hội theo phong cách hiệp hành.

22. Tất cả điều này đòi hỏi sự đào tạo ở mọi cấp độ, đặc biệt là trong việc đào tạo khai tâm và việc thường huấn các linh mục. Trong một Giáo hội ngày càng mang tính hiệp hành và sứ mạng, sứ vụ linh mục không hề mất đi chút nào tầm quan trọng và sự phù hợp của nó. Ngược lại, nó có thể tập trung hơn vào các nhiệm vụ cụ thể và chuyên biệt của riêng mình. Sự thách thức của tính hiệp hành – đó là không xóa bỏ nhưng coi trọng những sự khác biệt – vẫn là một trong những cơ hội chính cho các linh mục tương lai. Như Văn kiện Chung kết nói trên lưu ý, “các linh mục được mời gọi sống đời sống phục vụ trong tinh thần gần gũi với dân chúng, tiếp đón và sẵn sàng lắng nghe mọi người, mở lòng mình ra cho một phong cách hiệp hành” (số 72). Để xây dựng một Giáo hội hiệp thông ngày càng hiệu quả hơn, sứ vụ của linh mục phải vượt ra khỏi mô hình lãnh đạo độc quyền, là mô hình dẫn đến sự tập trung các hoạt động mục vụ và gánh nặng của mọi trách nhiệm chỉ dồn cho một mình linh mục. Thay vào đó, sứ vụ ấy nên hướng tới một kiểu lãnh đạo mang tính tập thể ngày càng hơn, với sự hợp tác giữa các linh mục, các phó tế và toàn thể Dân Chúa, đem lại sự làm phong phú cho nhau vốn là hoa trái của các đặc sủng đa dạng mà Chúa Thánh Thần ban tặng. Như Evangelii Gaudium nhắc nhở chúng ta, chức linh mục thừa tác và sự đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Phu Quân không được khiến chúng ta đánh đồng thẩm quyền thuộc bí tích với quyền lực, vì “sự đồng hình đồng dạng của linh mục với Chúa Kitô Đấng là Đầu, tức là nguồn ân sủng chính, không hề hàm ý một sự suy tôn đặt linh mục lên trên những người khác.”[21]

Trung thành và sứ mạng

23. Căn tính của linh mục được xây dựng xung quanh việc họ hiện hữu cho…, điều này gắn không rời với sứ mạng của họ. Thật vậy, ai “cố gắng tìm kiếm căn tính linh mục của mình bằng cách khảo sát tâm hồn và nội quan thì có thể sẽ gặp thấy không gì ngoài những dấu hiệu ‘exit / lối ra’, những dấu hiệu này nói rằng: hãy ra khỏi chính mình, hãy đi ra để tìm kiếm Thiên Chúa mà tôn thờ, hãy đi ra và trao cho dân chúng những gì đã được ký thác cho bạn, vì dân chúng sẽ giúp bạn cảm nhận và trải nghiệm mình là ai, tên bạn là gì, căn tính của bạn là gì, và họ sẽ khiến bạn vui mừng với cái được ban cho gấp trăm lần mà Chúa đã hứa cho những ai phục vụ Người. Nếu bạn không ‘đi ra’ khỏi chính mình, dầu sẽ bị ôi mùi và việc xức dầu sẽ không thể sinh hoa trái.”[22] Thánh Gioan Phaolô II dạy rằng “trong Giáo hội và vì Giáo hội, các linh mục là hiện thân có tính bí tích của Chúa Giêsu Kitô – Đấng là Đầu và Mục tử – có thẩm quyền công bố lời của Người, lặp lại các hành động tha thứ và ban ơn cứu độ của Người, đặc biệt là trong Phép Rửa, trong Bí tích Sám hối và Thánh Thể, thể hiện sự quan tâm yêu thương của Chúa đến mức hiến dâng trọn vẹn bản thân cho đoàn chiên, là đoàn chiên mà họ quy tụ lại thành một và dẫn dắt đến với Chúa Cha qua Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.”[23] Vì thế, ơn gọi linh mục phát triển giữa những niềm vui và những gian khó của việc khiêm nhường phục vụ anh chị em chúng ta, những người không phải lúc nào cũng được thế giới trân trọng nhưng lại có niềm khao khát sâu sắc được gặp thấy những chứng tá đáng tin cậy về tình yêu thương xót và trung thành của Thiên Chúa. Điều này trở thành phương thức chủ yếu để loan báo Tin Mừng.

24. Thế giới hiện đại của chúng ta, đặc trưng bởi nhịp sống nhanh và nhu cầu kết nối cao, thường khiến chúng ta cảm thấy gấp rút và kéo ta đến chủ nghĩa duy hoạt động. Do đó, có ít nhất hai cám dỗ nảy sinh làm suy yếu lòng trung thành của chúng ta đối với sứ mạng. Thứ nhất là não trạng thiên về hiệu năng, trong đó giá trị của mỗi người được đo bằng thành tích, tức là bằng số lượng các hoạt động và các dự án đã hoàn thành. Theo cách suy nghĩ này, những gì bạn làm quan trọng hơn con người bạn, gây đảo ngược thứ bậc thực sự của căn tính tâm linh. Đàng khác, cám dỗ thứ hai biểu hiện dưới một dạng chủ nghĩa vô vi. Sợ hãi trước tình hình hiện tại, chúng ta thu mình lại, từ chối sự thách đố của việc loan báo Tin Mừng, và thay vào đó áp dụng một thái độ lười biếng và bi quan. Ở chiều ngược lại, một sứ vụ vui tươi và hăng hái, bất chấp mọi yếu đuối của con người, có thể và cần phải nhiệt tình đảm nhận nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho mọi khía cạnh của xã hội chúng ta, nhất là văn hóa, kinh tế và chính trị, để tất cả mọi sự có thể được thâu họp trong Chúa Kitô (x. Ep 1,10). Để vượt qua hai cám dỗ này và để sống một sứ vụ vui tươi và đầy hoa trái, mỗi linh mục phải trung thành với sứ mạng mình lãnh nhận, nghĩa là trung thành với ân sủng được giám mục trao ban trong Bí tích Truyền chức. Trung thành với sứ mạng có nghĩa là đón nhận kiểu thức được thánh Gioan Phaolô II truyền cho chúng ta khi ngài nhắc nhở mọi người rằng đức ái mục tử là nguyên lý thống nhất đời sống của linh mục.[24] Chính bằng cách giữ sống động ngọn lửa đức ái mục tử, tức là tình yêu của vị Mục Tử Tốt Lành, mà mỗi linh mục có thể tìm thấy sự cân bằng trong cuộc sống hằng ngày và biết cách phân định điều gì có ích và điều gì là đặc thù của sứ vụ, theo giáo huấn của Giáo hội.

25. Sự hòa hợp giữa chiêm niệm và hoạt động được tìm kiếm không phải qua việc vồ vập áp dụng các kế hoạch hoạt động hoặc qua việc cân bằng đơn giản các hoạt động, mà phải bằng cách đặt chiều kích Phục Sinh vào trung tâm của sứ vụ. Tuy nhiên, việc hiến dâng trọn vẹn chính mình không hề có nghĩa là từ bỏ việc cầu nguyện, việc học tập hay tình huynh đệ linh mục. Trái lại, cầu nguyện trở thành chân trời bao gồm mọi thứ trong mức độ việc cầu nguyện ấy qui hướng về Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại để cứu rỗi thế giới. Bằng cách này, những lời hứa được đưa ra khi thụ phong cũng được hoàn thành; cùng với sự từ bỏ của cải vật chất, các lời hứa ấy thúc đẩy trong trái tim người linh mục một sự kiên trì tìm kiếm và gắn bó với thánh ý của Thiên Chúa, nhờ đó cho phép Chúa Kitô tỏa sáng trong mọi hành động của linh mục. Ví dụ, điều này xảy ra khi ta tránh xa mọi hình thức qui ngã và tự tôn, cho dù đôi khi ta phải chia sẻ về chính mình như vai trò của mình đòi hỏi. Được đào tạo bởi mầu nhiệm mà mình cử hành trong phụng vụ thánh, mỗi linh mục phải “tránh qua một bên để nhường chỗ cho Chúa Kitô, phải làm cho mình nhỏ lại để Chúa Kitô được nhận biết và được tôn vinh (x. Ga 3,30), phải hiến dâng chính mình đến cùng để mọi người có cơ hội nhận biết và yêu mến Chúa.”[25] Vì lý do này, việc tiếp cận truyền thông, sử dụng mạng xã hội và tất cả các công cụ hiện có ngày nay phải luôn được lượng giá một cách khôn ngoan, lấy việc phục vụ Tin Mừng làm cơ sở cho sự phân định. “‘Tôi được phép làm mọi sự,’ nhưng không phải mọi sự đều có ích” (1Cr 6,12).

26. Trong mọi hoàn cảnh, các linh mục được kêu gọi đáp ứng hữu hiệu trước nhu cầu lớn lao về các mối tương quan chân thành và đích thực được nhận thấy trong xã hội ngày nay, thông qua chứng tá của một đời sống giản dị và trong sạch. Họ cũng phải làm chứng cho một Giáo hội là “men hữu hiệu trong các mối ràng buộc, các tương quan, và trong tình thân của gia đình nhân loại”, “có khả năng nhiều hơn để nuôi dưỡng các mối tương quan: với Chúa, giữa nam và nữ, trong gia đình, trong cộng đồng địa phương, giữa các nhóm xã hội và tôn giáo.”[26] Để đạt được mục tiêu này, các linh mục và giáo dân phải cùng nhau thực hiện một cuộc hoán cải sứ mạng đích thực có sức hướng dẫn các cộng đoàn Kitô hữu, dưới sự dẫn dắt của các giám mục, nhằm phục vụ cho “sứ mạng mà các tín hữu thi hành trong xã hội, trong đời sống gia đình và lao động.” Như Thượng Hội đồng ghi nhận, “sẽ trở nên ngày càng rõ rằng giáo xứ không được qui hướng vào chính nó, mà phải hướng tới sứ mạng. Do đó, giáo xứ được kêu gọi nâng đỡ sự dấn thân của rất nhiều người đang sống và làm chứng bằng nhiều cách khác nhau cho đức tin qua nghề nghiệp của họ, trong các hoạt động xã hội, văn hóa và chính trị.”[27]

Trung thành và tương lai

27. Tôi hy vọng rằng việc kỷ niệm hai Sắc lệnh Công đồng này, và hành trình mà chúng ta được mời gọi cùng chia sẻ để xúc tiến và hiện thực hóa chúng, sẽ dẫn đến một Lễ Hiện Xuống mới của ơn gọi trong Giáo hội, và truyền cảm hứng cho nhiều ơn gọi vững vàng và thánh thiện hướng tới chức linh mục thừa tác. Như vậy, sẽ không bao giờ thiếu người làm việc trong mùa gặt của Chúa. Và ước gì lòng khao khát dấn thân hết mình cho việc cổ võ các ơn gọi và việc cầu nguyện không ngừng với Chúa của mùa gặt (x. Mt 9,37-38) được khơi dậy trong tất cả chúng ta.

28. Nhưng bên cạnh việc cầu nguyện, thì sự thiếu hụt ơn gọi linh mục – đặc biệt ở một số vùng trên thế giới – kêu gọi mọi người phải khảo sát tính hiệu quả của các thực hành mục vụ trong Giáo hội. Quả là các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng này thường rất đa dạng và phức tạp, và phụ thuộc cụ thể vào bối cảnh văn hóa xã hội. Đồng thời, chúng ta phải có can đảm đưa ra những đề nghị mạnh mẽ và đầy sức giải phóng cho các bạn trẻ, và phải bảo đảm rằng tại các Giáo hội địa phương có “những khung cảnh và những hình thức mục vụ giới trẻ qui hướng vào Tin Mừng, vì đây là nơi mà tiếng gọi tận hiến có thể hiện lộ và trở nên chín muồi.”[28] Trong xác quyết chắc chắn rằng Chúa không bao giờ ngừng kêu gọi (x. Ga 11,28), chúng ta cần luôn giữ một tầm nhìn về ơn gọi trong mọi bối cảnh mục vụ, đặc biệt là trong những bối cảnh liên quan đến giới trẻ và các gia đình. Chúng ta hãy nhớ: không có tương lai nếu không nuôi dưỡng tất cả các ơn gọi!

29. Cuối cùng, tôi tạ ơn Chúa, Đấng luôn gần gũi dân của Người và đồng hành với chúng ta, lấp đầy trái tim chúng ta bằng niềm hy vọng và sự bình an mà ta phải mang đến cho mọi người. “Thưa anh chị em, tôi mong muốn rằng khát vọng lớn lao thứ nhất của chúng ta là một Giáo hội hiệp nhất, một dấu hiệu của sự hiệp nhất và hiệp thông, trở thành men cho một thế giới được hòa giải.”[29] Hơn nữa, tôi cảm ơn tất cả anh chị em, các linh mục và giáo dân, là những người mở lòng trí đón nhận sứ điệp đầy tính ngôn sứ của các Sắc lệnh Công đồng Presbyterorum Ordinis  Optatam Totius, và là những người sẵn sàng, cùng với nhau, kín múc từ đó sự nuôi dưỡng và cảm hứng cho hành trình của Giáo hội. Tôi phó thác tất cả các chủng sinh, phó tế và linh mục cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Chỉ Bảo Đàng Lành, và cho thánh Gioan Maria Vianney, là thánh Bổn mạng của các cha xứ và là gương mẫu của mọi linh mục. Như Cha xứ Ars đã nói, “Chức linh mục là tình yêu của trái tim Chúa Giêsu,”[30] một tình yêu mạnh mẽ đến nỗi xua tan những đám mây của sự tự mãn, của sự nản lòng và cô đơn. Đó là một tình yêu trọn vẹn, được trao trọn cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể: một tình yêu Thánh Thể, một tình yêu linh mục.

Ban hành tại Rôma, Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 8 tháng 12, Lễ trọng kính Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong Năm Thánh 2025, năm đầu tiên triều Giáo hoàng của tôi.

GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV

(Người dịch: Lm. Lê Công Đức, PSS.)

_____________________

[1] Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục Optatam Totius, Dẫn nhập.

[2] Cf. Thánh J.H. Newman, Khảo luận về sự Phát triển Giáo lý Kitô giáo, Notre Dame 2024. Trong ý nghĩa này, tôi nhớ lại lời kêu gọi trong Optatam Totius, 16, về việc đổi mới và thăng tiến việc học tập trong Giáo hội, vốn đang diễn ra.

[3] Cf. Thượng Hội đồng Giám mục, Vì một Hội Thánh Hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ mạng, Tài liệu Chuẩn bị (2021), 1; Phanxicô, Diễn từ nhân Kỷ niệm 50 năm Cơ chế Thượng Hội đồng Giám mục (17.10.2015).

[4] Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25.12.2005), 1.

[5] Bênêđictô XVI, Bài giảng Thánh lễ Bế mạc Năm Linh Mục (11.6.2010).

[6] “Người hỏi Phêrô có yêu mến Người hay không, mà không cần biết tâm cảm của người môn đệ, nhưng bởi một khao khát muốn diễn tả tình yêu sâu xa của chính Người” (Thánh Gioan Kim khẩu, De Sacerdotio II: 1: SCh 272, Paris 1980, 104, 48-51).

[7] Bộ Giáo sĩ, Ơn gọi Linh mục,  Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (8.12.2016), 57.

[8] Diễn từ với các Tham dự viên Cuộc gặp gỡ Quốc tế của Các Linh mục do Bộ Giáo sĩ tổ chức nhân ngày Năm Thánh của Linh mục và Chủng sinh (26.6.2025).

[9] Suy niệm nhân ngày Năm Thánh của Chủng sinh (24.6.2025).

[10] Bênêđictô XVI, Giáo lý (24.6.2009).

[11] Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về Sứ vụ và Đời sống Linh mục Presbyterorum Ordinis, 9.

[12] Ibid., 8.

[13] Thánh Cyprianô, De Oratione Domini, 23: CCSL3A, Turnhout 1976, 105.

[14] Cf. Bộ Giáo sĩ, Ơn gọi Linh mục. Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (8.12.2016), 87-88.

[15] Diễn từ với các Tham dự viên Cuộc gặp gỡ Quốc tế của Các Linh mục do Bộ Giáo sĩ tổ chức nhân ngày Năm Thánh của Linh mục và Chủng sinh (26.6.2025).

[16] Cf. Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25.3.1992), 61; Bênêđictô XVI, Tự sắc Ministrorum Institutio (16.1.2013).

[17] Cf. Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về Sứ vụ và Đời sống Linh mục Presbyterorum Ordinis (7.12.1965), 8.

[18] Thánh Inhaxiô thành Antiokia, Thư gửi Tín hữu Êphêsô, 4, 1-2: SCh 10, Paris 19694, 72.

[19] Diễn từ với các Tham dự viên nhân ngày Năm Thánh của Các Nhóm Hiệp hành và Các Cơ chế Tham gia (24.10.2025).

[20] Thượng Hội đồng Giám mục, Vì một Hội Thánh Hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ mạng, Văn kiện Chung kết khóa Hội nghị Thứ Hai của THĐGM Thường kỳ lần thứ XVI (26.10.2024).

[21] Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), 104.

[22] Phanxicô, Bài giảng Thánh lễ Truyền Dầu (17.4.2014).

[23] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25.3.1992), 15.

[24] Cf. ibid., 23.

[25] Bài giảng Thánh lễ Cầu nguyện cho Giáo hội (9.5.2025).

[26] Thượng Hội đồng Giám mục, Vì một Hội Thánh Hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ mạng, Văn kiện Chung kết khóa Hội nghị Thứ Hai của THĐGM Thường kỳ lần thứ XVI (26.10.2024), 20; 50.

[27] Ibid., 59; 117.

[28] Diễn từ với các Tham dự viên Cuộc gặp gỡ Quốc tế của Các Linh mục do Bộ Giáo sĩ tổ chức nhân ngày Năm Thánh của Linh mục và Chủng sinh (26.6.2025).

[29] Bài giảng Thánh lễ Khai mạc Sứ vụ Giáo hoàng (18.5.2025).

[30] “Chức Linh mục, đó là tình yêu của trái tim Chúa Giêsu” trong Bernard Nodet, Cha sở xứ Ars. Sa pensée, son cœur, Paris 1995, 98.