Có một vấn đề, thực ra là một câu hỏi khiến tôi day dứt rất lâu. Vài lần có cơ hội đến công viên vui chơi, quan sát mấy bạn nhỏ, nhất là những cô bé, cậu bé trong độ tuổi 5 – 9 tuổi, tôi đoán là thế. Nhìn mấy cô, mấy cậu bé vui vẻ soi mình trước những chiếc gương cong trong “Mê Cung Gương Lõm”. Có bé đứng trước không gian phản chiếu, thấy hình ảnh cơ thể bỗng thành các hình thù ngộ nghĩnh, nhiều bé cười ngất khi thấy mình “biến dạng”, còn bé khác thì hốt hoảng rồi khóc thật to, nên ba mẹ chạy đến dỗ dành: “không sao đâu con”. Tôi thấy, ba mẹ của bé khóc to ấy bồng bé lên hoặc có người thì kéo bé khác ra xa tấm gương cong đó.

Khi nhìn mấy đứa trẻ, đứa thì khóc, đứa lại cười, đứa thì hoang mang, đứa thì thích thú như khám phá điều gì rất mới. Khung cảnh và không gian đó đã cho tôi một trải nghiệm thị giác thật thú vị.

Nhìn đám trẻ con thử thách nhìn mình qua gương, tôi cũng thử một lần nhìn hết các loại như gương lồi và gương lõm. Tôi bỗng hiểu ra qua một trải nghiệm nhỏ trước tấm gương cong, trẻ cười vì nhận ra:

-               các ảnh ảo trùng lặp, vô tận, khó phân biệt lối đi thật và đâu là phản chiếu giả

-               còn chân mình tự nhiên dài bất thường, rồi lại lùn tịt

-               người tôi thành to béo, qua kia lại gầy gò,

-               đầu mình bỗng to, mặt mình lại co kéo,

-               người mình méo mó…

Tôi nhận ra chính việc nhận thấy sự khác biệt giữa hình mình trong gương và cơ thể thật của mình, thì đó cũng là một bài tập tốt cho trẻ về:

-               khả năng quan sát,

-               nhận thức không gian,

-               tư duy so sánh,

-               tính linh hoạt nhận thức.

Vì nếu sau đó trẻ nhìn lại gương bình thường hoặc nhìn chính cơ thể mình, não của trẻ sẽ nhanh chóng hiệu chỉnh. Còn với những đứa trẻ sợ hãi khóc thét khi thấy chính mình bị biến dạng thì bố mẹ bé đã giúp bé rời khỏi gương cong, trấn an bé và an ủi bé: “không sao đâu! Gương đó không đúng đâu. Con không bị sao cả.”

Nhìn thấy những đứa bé soi những chiếc gương cong, gương lồi, gương lõm, khiến tôi suy nghĩ thật nhiều. Nếu chỉ thỉnh thoảng các bé chơi với “Mê Cung Gương Lõm” như một trò chơi giải trí, khiến bé vui vẻ thì hầu như không gây hại. Nhưng nếu một đứa trẻ thường xuyên chỉ nhìn thấy hình ảnh méo mó của chính mình hoặc của những người khác cũng cong cong, vẹo vẹo như thế thì sẽ như thế nào nhỉ? “Mê Cung Gương Lõm” phản ánh một thế giới cong vẹo, không giống hình người thật, mà không được người lớn giúp điều chỉnh ngay hoặc kéo chúng ra khỏi “Mê Cung Gương Lõm” thì điều gì sẽ xảy ra? Câu hỏi ấy khắc vào trí tôi.

Có thể những đứa trẻ ấy cứ vui mãi hoặc bị cuốn vào trò chơi “Mê Cung Gương Lõm” sẽ bị ảnh hưởng đến thị giác sau này ra sao? Hoặc có một bé nào đó bị cuốn vào thế giới “cong vẹo” nên đã bị sự sợ hãi bất thường khống chế thì sẽ như thế nào?

Hơn thế nữa, khi mãi đứng trước một tấm gương cong, gương lồi, gương lõm trong cuộc sống thực, thì không phải chỉ là thị giác, mà là cách trẻ kiến tạo nhận thức về bản thân, về thế giới mà trẻ đang hiện diện, tương tác và cùng sống sẽ ra như thế nào?

Tôi đang tự hỏi: “Nếu chiếc gương đã cong, hoặc gương lồi, gương lõm người soi vào đó làm sao biết khuôn mặt thật của mình? Họ sẽ cảm thấy như thế nào về khuôn mặt thật của họ?”

Những suy tư này cứ theo tôi. Rồi tôi nghĩ về những người trẻ. Những người mà chúng tôi hay nói với họ về một tấm gương, khuyến khích họ hãy nhìn, soi rọi và bước theo để sống. Với lời mời gọi chúng tôi thường nói:

-               “Hãy sống trung thực.”

-               “Hãy sống công bằng.”

-               “Hãy sống tử tế.”

-               “Hãy yêu thương.”

Nhưng rồi khi, các bạn trẻ mở điện thoại, lướt facebook, xem tiktok, nhìn vào instgram, bật tivi hay theo dõi báo chí, đọc tin tức mỗi ngày, cập nhật thông tin thế giới, xã hội… với biết bao tiêu đề cuốn hút. Vậy rồi, ngồi bên cạnh tôi, có bạn hỏi về những vấn đề nổi cộm, cứ như thách đố, cứ như có chút gì hờn trách, chút gì đó thiếu tin tưởng, lời bạn như xoáy vào tim tôi, làm tim tôi nhói: “… vì họ nói mà không làm; dạy mà không thực hiện; hứa mà không giữ lời…” của rất nhiều người lớn mà trẻ có thể đã tiếp xúc như: cha mẹ, ông bà, thầy cô, những người lãnh đạo, những người nổi tiếng, những người có nhiều ảnh hưởng trong xã hội, những anh chị lớn, những người mà trẻ gọi là người lớn, người có trách nhiệm trong xã hội hay giáo hội.

Các em nói với tôi điều các em nghe nói đến trên truyền thông, nhìn thấy từ những nơi rất gần mình, có em còn biết có những người dùng chức vụ lạm dụng quyền lực, những người được giao trách nhiệm bảo vệ sự thật lại gian dối, những người được xã hội kính trọng lại đánh đổi lương tâm vì lợi ích cá nhân. Các em cũng hiểu, không phải ai cũng như vậy. Nhưng theo em thì chỉ cần một số trường hợp nổi cộm: “cũng đủ làm lung lay niềm tin của chúng con rồi.”

Thiết nghĩ, điều làm các em tổn thương không chỉ là một hành vi sai trái. Điều làm các em tổn thương là cảm giác bị lừa dối: “Nếu ngay cả những người đáng tin nhất cũng có thể như vậy, thì liệu sự tử tế có còn tồn tại không?”

Đó là lúc chiếc gương bắt đầu cong! Nhiều chiếc gương khác lại trở nên lồi hoặc lõm. Vậy là khó soi mình vào những chiếc gương ấy rồi.

1.             Điều người trẻ học

Người trẻ không chỉ học bằng tai. Người trẻ học bằng mắt. Người trẻ học bằng trái tim trước khi đi đến khối óc. Một đứa trẻ rất ít khi trở thành con người nhờ những bài giảng dài. Các em trở thành con người nhờ những gì các em nhìn thấy mỗi ngày.

Nếu cha mẹ nói yêu thương nhưng thường xuyên xúc phạm nhau. Nếu thầy cô dạy trung thực nhưng lại chấp nhận gian lận. Nếu cha mẹ khuyến khích và thúc đẩy mục tiêu học cho người trẻ chỉ để thăng tiến bản thân và kiếm thật nhiều tiền chứ không là giúp con người tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Nếu người lớn lên án tham nhũng nhưng sẵn sàng “linh động” khi có lợi cho mình. Nếu lãnh đạo nói liêm chính nhưng sau lưng lại nhận quà bất chính. Nếu người luôn miệng nói đạo đức nhưng khi tiếp xúc với bệnh nhân có trái tim vô cảm trước nỗi đau thân xác của họ mà chỉ biết vòi tiền bồi dưỡng. Nếu xã hội tôn vinh thành công hơn nhân cách. Nếu giáo lý dạy sống hiền lành, đạo đức, tử tế và sẵn sàng hy sinh nhưng có người vẫn còn trách nhau vì làm một việc tốt mà sao không ai nhớ đến để cảm ơn trong một buổi lễ.

Thì bài học thật sự mà người trẻ nhận được là:

-               “Điều đúng chỉ là điều để nói.”

-               “Còn điều có lợi mới là điều để làm.”

Xem ra bài học chúng ta dạy trên mọi nơi, trong mọi chỗ khác hẳn với bài thực hành mà người trẻ nhìn thấy những người lớn khi sống với nhau. Đó là một bài học rất nguy hiểm.

2.             Điều người trẻ nhận thức

Điều đáng sợ nhất không phải là cái ác. Điều đáng sợ nhất là khi người tốt bắt đầu nghi ngờ sự thiện. Điều đáng lo lắng là khi người trẻ chân thật nhưng khi đối diện với lương tâm, với tiếng nói sự thiện bên trong họ bị giằng co vì không biết làm sao để chọn. Điều đáng ngại nhất là khi người ta phải chọn lựa thì phải khéo léo đứng về số đông để được gọi là biết cách chọn sao cho có lợi chứ không là chọn lựa sự sống.

Một người trẻ có thể chấp nhận rằng thế giới còn nhiều điều chưa hoàn hảo. Họ hăng hái, nồng nhiệt để góp phần mình xây dựng cho thế giới hoàn hảo hơn. Nhưng nếu khi các em dần tin rằng:

-               Trung thực chỉ làm mình thiệt.

-               Tử tế chỉ khiến mình bị lợi dụng.

-               Công bằng chỉ là khẩu hiệu.

-               Yêu thương chỉ là một câu nói đẹp.

-               Mục tiêu lớn hơn mục đích và ý nghĩa cuộc đời

Thì các em sẽ không còn cố gắng trở thành người tốt, người tử tế nữa. Không phải vì các em xấu. Mà vì các em không còn tin điều tốt là điều có thể sống được. Các em không còn tin vào điều người khác dạy mình cũng chính là điều mà họ tin và xác tín để sống điều mà họ dạy. Khi niềm tin vào điều thiện mất đi, xã hội sẽ nghèo đi từ bên trong nhưng lại rất giàu nếu nhìn thấy từ ở bên ngoài, từ cái vỏ bọc nhiều màu sắc của những tiếng hô hào khẩu hiệu: “sống tốt, sống thật, sống đúng nghĩa.”

3.             Điều người trẻ đang thắc mắc và tự hỏi

Điều gì đang và đã làm cho một chiếc gương phẳng trở nên cong? Điều gì khiến những người trước đây vẫn đang rất thẳng thắn, công tâm, có nhiều điều thiện để đóng góp cho xã hội, cho con người. Họ là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên một số đông người trẻ. Họ là những người mà người trẻ học hỏi và kỳ vọng. Rồi bỗng nhiên, một ngày họ rơi vào thế giới “gương cong”.  Có thể vì: mê muội, thú vui chốc lát, sống ảo, thói quen hưởng thụ, lười tìm ý nghĩa đời mình, chóng chán, không đủ kiên trì, ham thú xác thịt, lòng tham vô đáy, sợ hãi, áp lực thành công, quyền lực, tổn thương chưa được chữa lành, sự tách rời giữa điều họ tin và điều họ sống… thì từ chỗ rất “phẳng”, rất tốt, rất thiện chí, rất nồng nhiệt, rất nhiều ước mơ… thế là, họ từ thế giới thực, bước sang thế giới ảo, rồi từ từ bước vào thế giới “gương cong”.

Lúc đó, chính họ cũng không thể nhận ra mình vì họ đã quá quen với “Mê Cung Gương Lõm,” đến độ không phân biệt được “cong hay phẳng”. Đến một lúc, khi nhìn vào gương cong họ cũng không thể nhận ra chính mình đã cong đến mức nào để có thể điều chỉnh.

4.             Điều người trẻ thách đố bản thân và quyết định chọn lựa

Liệu những chiếc gương cong, gương lồi, gương lõm có quyết định khuôn mặt của chúng ta?

Đây là lúc tôi nhớ đến Viktor Frankl. Ông từng sống giữa một trong những hoàn cảnh tàn khốc nhất của lịch sử nhân loại. Ông nhìn thấy lòng tham, bạo lực, sự phản bội và sự vô nhân đạo. Thế nhưng ông không kết luận rằng con người sinh ra để làm điều ác.

Ông viết rằng giữa điều xảy đến với con người và cách con người đáp lại luôn tồn tại một khoảng tự do. Khoảng tự do ấy là nơi phẩm giá của con người được gìn giữ.

Nói cách khác: “Chiếc gương có thể cong, lồi hay lõm. Nhưng con người vẫn có thể chọn không để trái tim mình méo mó theo chiếc gương ấy.”

5.             Điều người trẻ cần

Khi có cơ hội tiếp xúc với các bạn trẻ, tôi nghĩ, các em không cần những người lớn hoàn hảo. Các em cần những người lớn dám sống thật với lời mình nói, sống những điều mình nghĩ và dám chấp nhận thua thiệt theo một nghĩa nào.

Giả dụ, một người cha biết xin lỗi con khi mình sai. Một người mẹ dám nhận lỗi khi mình chưa biết rõ vấn đề mà đã áp đặt hoặc kết án con. Một thầy cô dám nói cách khiêm tốn: “Thầy cũng đang học để sống trung thực.” Một bác sĩ đặt phẩm giá người bệnh lên trên lợi ích. Một cán bộ làm đúng dù không ai biết. Một linh mục, một tu sĩ, một giáo lý viên sống điều mình giảng giải.

Những con người ấy giống như những tấm gương phẳng. Sống theo cách đó thì họ sẽ trở nên “phẳng nhưng không lặng” chút nào. Vì cái phẳng ấy có thể nhỏ. Có thể ít. Nhưng đủ để giúp một đứa trẻ biết rằng: “Điều thiện vẫn có thật.” Để có thể làm điều thiện, sống điều thiện thì cần phải trả giá không nhỏ, không ít và cũng không dễ trong mặt gương phẳng ấy mỗi ngày.

Cuối cùng, câu hỏi không còn là: “Thế giới hôm nay có còn người tốt không?” Mà là: “Tôi sẽ trở thành loại người nào trong một thế giới còn nhiều điều chưa ngay lành?”

Có thể chúng ta không thay đổi được tất cả. Nhưng mỗi người đều có thể quyết định: “Mình sẽ không trở thành thêm một chiếc gương cong.”

6.             Điều ta chọn lựa: "Hãy học cách phân biệt giữa chiếc gương và ánh sáng."

Bởi vì chỉ cần có thêm một tấm gương phản chiếu sự thật, lòng tử tế và tình yêu, sẽ có thêm một người trẻ tin rằng cuộc đời này vẫn đáng để sống trung thực. Và biết đâu, chính niềm tin ấy sẽ là khởi đầu của một xã hội tốt đẹp hơn.

Trong Kinh Thánh, con người không được mời gọi cuối cùng là soi mình vào người khác, vì mọi con người đều có giới hạn và có thể vấp ngã. Con người được mời gọi "chiêm ngắm vinh quang của Chúa" để được biến đổi (x. 2 Cr 3,18), và Đức Giêsu được trình bày như "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15). Điều này không có nghĩa là bỏ qua trách nhiệm của người lớn hay các gương xấu trong xã hội. Ngược lại, nó giúp người trẻ hiểu rằng khi những "chiếc gương" của con người bị méo mó, vẫn còn một chuẩn mực tối hậu để hướng về.

Hơn thế nữa, con người chúng ta không chỉ được gọi mời soi gương hoặc tìm chiếc gương phẳng đế theo. Vì:

·                  Gương chỉ phản chiếu.

·                  Gương có thể cong.

·                  Gương có thể vỡ.

·                  Gương có thể bẩn.

Nhưng chúng ta thì không phụ thuộc vào chiếc gương. Chúng được mời gọi đưa chiếc gương của đời mình bước ra ánh sáng. Ánh sáng vẫn là ánh sáng. Nếu không có ánh sáng, dù gương có phẳng đến đâu cũng không phản chiếu được gì. Trong chiều kích Kitô giáo, nhất là đối với người trẻ công giáo, điều này rất đẹp: Đức Kitô không chỉ là "Tấm Gương Hoàn Hảo" cho chúng ta. Ngài còn là Ánh Sáng thật soi chiếu mọi người bước vào thế gian (x. Ga 1,9).

Nên bao lâu còn sống ở thế gian, nếu chỉ soi gương của những con người, những chiếc gương có thể bám bụi bẩn, thì ta có thể loay hoay với niềm tin của mình vào họ. Ta có thể khó khăn khi phải tìm cách lau bụi bẩn mà họ vô tình hay cố ý vấy vào. Ta có thể phải tìm kiếm rất lâu để có thể tìm ra chiếc gương phẳng. Vậy sao ta không thử một lần soi chiếu đời mình dưới ánh sáng, để ta nhận ra rằng ta không chỉ được mời gọi: "hãy tìm một chiếc gương phẳng", mà còn là "hãy bước ra ánh sáng để học cách nhận ra đâu là chiếc gương phản chiếu sự thật".

Tôi nghĩ, người trẻ không dừng ở sự thất vọng trước các gương cong, lồi hay lõm của người khác. Nhưng họ mở ra một niềm hy vọng. Vì người trẻ không nhất thiết phải trở thành bản sao của những gì mình nhìn thấy. Các em vẫn có thể lớn lên thành những con người ngay thẳng, vì còn có Chân Lý và Tình Yêu để soi chiếu và định hướng cuộc đời mình.


M. Tuyết Mậu, RNDM

Củ Chi, tối 28/ 07/ 2026