Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất thuật lại câu chuyện trên đường Em-mau. Đấng Phục sinh như một người khách lạ vô tình gặp hai môn đệ trên đường trở về quê cũ. Tâm trạng hai ông lúc này là thất vọng và buồn chán. Khi gặp người khách lạ, hai ông như có dịp trút bầu tâm sự đang làm tâm hồn họ nặng trĩu. Tác giả đã khéo léo tạo dựng nhân vật trong trình thuật, để đưa độc giả, cũng giống như hai môn đệ năm xưa, hết đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cuối cùng, như hai môn đệ ngỡ ngàng “mở mắt ra” độc giả là chúng ta hôm nay cũng được “mở mắt” để gặp gỡ Đấng phục sinh, Đấng đang bẻ bánh nuôi sống nhân loại.

Khi mở đầu câu chuyện, hai môn đệ tỏ ra rất thông tin và thạo tin. Hai ông hào hứng nói về tình hình thời sự và có vẻ như coi thường vị khách lạ: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”. Câu nói này cho thấy vụ việc Chúa Giê-su là một biến cố lớn làm rung động Thành Thánh. Không chỉ là những người thạo tin, hai ông còn tỏ ra là những người hiểu biết rõ vị ngôn sứ thành Na-da-rét: “Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”. Rồi sau đó, hai ông giãi bày tâm trạng của mình: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en”. Khi nói “trước đây”, có nghĩa hiện tại hai ông không còn hy vọng nữa. Nói cách khác, niềm hy vọng mà các ông đặt để nơi vị ngôn sứ ấy giờ đây đã bị dập tắt, trở thành ảo vọng, thậm chí là thất vọng. Hai ông cũng tỏ cho thấy, mình không phải là người không hiểu biết gì, bởi lẽ “thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mồ từ sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ và thấy sự việc ý như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy”.

Qua những lời tâm sự, thực ra hai ông đang thú nhận sự kém cỏi và chậm tin của mình. Cũng như các môn đệ khác, chắc chắn trước đó hai ông đã nghe Thầy mình tiên báo về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người. Vậy mà bây giờ, với khá nhiều bằng chứng hiển nhiên về sự phục sinh của Thầy mình, họ vẫn không tin.

Nếu hai ông hồ hởi khoe khoang sự hiểu biết của mình, thì Chúa Giê-su lại chê họ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”

Suy nghĩ của hai môn đệ cũng giống như suy nghĩ của nhiều người trong chúng ta. Là Ki-tô hữu, chúng ta vẫn nghe  Giáo Hội nói về sự phục sinh của Chúa Giê-su; hằng năm chúng ta vẫn nghe trình thuật về việc ông Tô-ma thách thức Chúa và sau đó được gặp Người; chúng ta cũng vẫn nghe câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau, nhưng chúng ta vẫn không được thấy Chúa và cuộc đời của chúng ta vẫn không có gì thay đổi. Đối với nhiều tín hữu, đức tin vào Chúa chỉ đơn thuần giống như một thói quen văn hóa. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta: cần phải mở con mắt tâm hồn để thực sự gặp gỡ Đấng phục sinh đang hiện diện và đang ngỏ lời với chúng ta, để rồi sự phục sinh của Chúa là động lực soi sáng và thúc đẩy hành vi, ngôn từ của chúng ta.

Tại bàn ăn, khi thấy người khách lạ làm những cử chỉ rất quen thuộc là “cầm bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ”, mắt các ông mở ra và nhận ra Thầy mình. Đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa sẽ giúp chúng ta lấy lại nghị lực siêu nhiên và niềm vui trong tâm hồn cũng như trong cuộc đời. Trên đường về Em-mau, lòng các ông nặng trĩu. Khi quay ngược trở lại Giê-ru-sa-lem, các ông phấn chấn và mạnh mẽ. Lòng các ông đã bừng cháy từ khi nghe người khách lạ giải thích Kinh Thánh.

Lời Chúa trong mùa Phục sinh nhấn mạnh đến lời chứng của thánh Phê-rô và các Tông đồ. Bài đọc I cho chúng ta nghe một phần bài giảng của thánh Phê-rô trong ngày lễ Ngũ Tuần. Dân chúng hành hương hết sức ngạc nhiên, thấy thánh Phê-rô và nhóm Mười Một vốn là những người ít học mà bỗng nhiên trở nên khôn ngoan uyên bác đến lạ kỳ. Thánh Phê-rô trích dẫn Cựu ước, với những nhân vật và sự kiện quá quen thuộc với người Do Thái, để từng bước chứng minh Đức Giê-su là Đấng Thiên sai. Người đã bị giết chết và đã sống lại. Các Tông đồ rao giảng hăng say, đến nỗi một số người cực đoan có mặt cho rằng các ông bị say rượu (x. Cv 2,13).

Xin Chúa Giê-su Phục sinh mở mắt để chúng ta gặp Người ngay trong cuộc sống này, dẫu rằng vẫn còn đó những gian nan thử thách. Thánh Phao-lô khuyên chúng ta: khi tuyên xưng vào sự sống lại của Chúa Giê-su, chúng ta đặt để niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy chuyên tâm sống tốt cuộc đời lữ khách này (Bài đọc II). Chúa Phục sinh đang hiện diện và đồng hành với chúng ta. Người đang bẻ bánh cho chúng ta mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa mở mắt để chúng ta thấy Người.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên